Khái niệm về đá ngọc

Khái niệm chung về đá ngọc

Từ đá quý (Precious stones) được sử dụng từ lâu, để chỉ các khoáng vật, đá và một số vật liệu hữu cơ có màu sắc đẹp, bền và hiếm dùng làm đồ trang sức.

Dựa vào giá trị người ta còn chia đá quý thành hai loại: đá quý và đá bán quý.

Đá quý (Precious stones) bao gồm: kim cương, ruby, saphir và lục bảo ngọc (emerald).

Đá bán quý (Semi – precious stone) bao gồm: spinel, aquamarin, peridot, granat, amethyst, topaz, tourmalin,…

Có một số người còn dùng từ đá màu (coloured stones) để chỉ chung các loại đá quý, trừ kim cương.

Đá ngọc. Hiện nay trên thế giới người ta dùng từ đá ngọc (gemstones) thạy cho các từ đá quý và đá màu. Như vậy khi nói đá quý người ta có thể hiểu đó là đá ngọc và ngược lại. Khoa học nghiên cứu đá ngọc được gọi là ngọc học (Gem- mology). Đá ngọc thô sau khi được gia công cưa cắt, mài, bóng thành sản phẩm trang sức gọi là ngọc (Gems).

Các tiêu chuẩn đánh giá đá ngọc

Hầu hết đá ngọc là các khoáng vật và đá được hình thành trong các Quá trình hoạt động địa chất (magma, trầm tích và biến chất). Tuy nhiên, trong số gần 5.000 khoáng vật và đá đã biết, không phải tất cả chúng đều là đá ngọc, mà chỉ có hơn 100 loại mà thôi.

Để được xếp vào hàng đá ngọc, các khoáng vật và đá phải hội tụ đủ ba tiêu chuẩn sau:

  • Đẹp (Beauty)

Đẹp là tiêu chuẩn đầu tiên và quan trọng, quyết định giá trị và thẩm mỹ của đá ngọc.

Những đặc điểm tạo nên vẻ đẹp của đá ngọc là màu sắc, độ trong suốt, độ phản xạ ánh sáng và các hiệu ứng quang học đặc biệt (ngũ sắc, sao, mắt mèo, mắt hổ,…).

  • Bền (Durabillty)

Độ bền được thể hiện bởi các đặc tính: cứng, dai, bền trong quá trình sử dụng, không bị tác động bên ngoài như va chạm, nhiệt độ, các hoá chất làm biến dạng, hư hỏng.

  • Hiếm (Rarity)

Độ hiếm là tiêu chuẩn cần thiết góp phần tạo nên giá trị của đá ngọc. Đá đã bền, đẹp lại hiếm thì giá trị càng cao.

Các tiêu chí đánh giá viên ngọc

Trên thực tế để đánh giá về giá trị và thẩm mỹ của viên ngọc người ta dựa vào công thức 4C (C viết tắt của bốn từ tiếng Anh) cụ thể như sau:

  • Colour (Màu sắc)

Màu sắc của viên ngọc càng tươi càng đậm thì viên ngọc càng quý, càng có giá. Thí dụ viên ngọc ruby màu đỏ máu bồ câu đắt giá hơn nhiều so với viên ngọc ruby màu đỏ nhạt, màu hoa mười giờ có cùng kích thước, trọng lượng.

  • Clarity (Độ trong, độ tinh khiết)

Độ trong, độ tinh khiết làm tôn vẻ đẹp và giá trị của viên ngọc. Viên ngọc càng trong suốt, tinh khiết có giá trị càng cao

  • Carat (Nói về trọng lượng)

Trọng lượng và kích thước của viên ngọc càng lớn thì giá trị của viên ngọc càng cao. Một viên ngọc có trọng lượng gấp đôi viên khác cùng loại sẽ có giá trị không phải gấp đôi mà còn gấp nhiều lần.

  • Cut (Cưa cắt, đánh bóng viên ngọc)

Dân gian có câu: “Ngọc bất tắc, bất thành khí” hay “Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài, cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi” cho thấy, tất cà các loại đá ngọc thô cần phải qụa khâu gia công chế tác mài bóng mới trở thành viên ngọc đẹp và quý được. Đá ngọc thô đục (không trong) như opan, turquoise… thường được cắt và mài khum (còn gọi là mài trơn hay cabochon). Nghệ nhân chế tác sẽ nghiên cứu để gia công đánh bóng, mài khum để làm nổi bật các đặc tính của đá ngọc như có ánh sao, mắt mèo, mắt cọp… Các đá ngọc có độ trong cao được gia công, chế tác mài giác (íacet) nhằm giúp viên ngọc trông lộng lẫy, lấp lánh khi phản xạ ánh sáng. Việc gia công chế tác do đó cũng là công việc của thẩm mỹ, tinh tế và nghệ thuật. Người chế tác đá ngọc giỏi thường phải có kiến thức tối thiểu về tinh thể học, ngọc học, thẩm mỹ học để đảm bảo viên ngọc cắt mài ra có chất lượng – cân đối – hài hoà, phản xạ ánh sáng tốt nhất và giảm bớt được các khuyết tật của viên ngọc. Như vậy, nếu chế tác gia công càng tinh xảo – có chất lượng và đúng quy cách, giá trị viên ngọc càng lớn.

Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể của đá ngọc

Thành phần hóa học của đá ngọc

Thành phần hóa học của đá ngọc được thể hiện bằng công thức hoá học tạo nên đá ngọc.

Ví dụ: corindon là khoáng vật có công thức là Al203. Công thức này có nghĩa là hai cation Al3+ liên kết hoá học với ba anion O2 tạo nên. Ở trạng thái tinh khiết, corindon Al203 không màu. Nhưng nếu hợp chất Al203 có lẫn các chất tạo màu thì nó sẽ có tên gọi khác nhau tùy theo chất vi lượng tạo màu. Hợp chất A1203 có lẫn vi lượng Cr sẽ tạo thành màu đỏ mang tên rubỵ, có lẫn vi lượng Fe và Ti tạo thành màu xanh lam có tên gọi là saphir.

Hồng bảo ngọc (Ruby)

Lam bảo ngọc (Saphir)

Thành phần hoá học có ảnh hưởng đến tính chất vật lý của đá ngọc, thể hiện rõ nhất là độ bền của chúng.

Các đá và khoáng vật oxyt thường là bền vững với các tác dụng hoá học, như: Thạch anh (Si02), khoáng vật corindon (A1203), spinel (Mg Al204)…

Spinel

Thạch anh

Các đá silicat rất cứng và bền vững, như : Hoàng ngọc (topaz), lãm ngọc (peridot), ngọc thạch (jade)…

Topaz

Peridot

Ngọc thạch (jade)

Các đá carbonat thường mềm và dễ bị các axit tác dụng, như: Malachit (Cu2(OH)2C03), azurit (2CuC03.Cu(OH)2

Malachit

Thành phần hoá học giúp ta hiểu biết bản chất của đá ngọc, nhưng trong thực tế người ta không giám định đá ngọc bằng phân tích hoá học vì đòi hỏi phải phá huỷ mẫu, mà phải dùng các phương pháp hiện đại đắt tiền hơn nhiều.

Cấu trúc tinh thể của đá ngọc

Hầu hết các khoáng vật đá ngọc đều là các chất kết tinh, trong đó các nguyên tử và phân tử sắp xếp theo một cấu trúc không gian ba chiều đối xứng và có trật tự.

Như đã trình bày ở trên, đến nay các nhà khoa học trên thế giới đã xác định được trong và trên vỏ trái đất có khoảng 5.000 khoáng vật. Dù được hình thành trong các điều kiện rất khác nhau, ở các thời điển cách nhau tới trăm triệu, hàng tỷ năm nhưng đều kết tinh trong khuôn khổ chỉ có bảy hệ tinh thể.

Các nhà khoa học đã xếp các tinh thể khoáng vật thành bảy hệ với các đặc điểm sau:

Hệ lập phương (Cubic)

Trong hệ lập phương, các hình thường gặp là khối lập phương, hình tám mặt, hình mười hai mặt thoi…

Hệ sáu phương(Hexagonal)

Còn gọi là hệ lục lăng. Những hình thường gặp là lăng trụ sáu phương, tháp đôi sáu phương và hỗn hợp của chúng

Hệ bốn phương (Tetragonal)

Còn gọi là hệ lập tứ. Các hình phổ biến là lăng trụ bốn phương, tháp đôi bốn phương, khối hai tư mặt hình thang bốn phương và hỗn hợp.

Hệ ba phương (Trigonal)

Những hình hay gặp là tháp đôi ba phương, hình khối bình hành và hỗn hợp.

Hệ trực thoi (Orthorhombic)

Những hình hạy gặp là lăng trụ trực thoi, thấp đôi trực thoi và hỗn hợp.

Hệ một nghiêng (Monoclinic)

Còn gọi là hệ đơn tà. Dạng thường gặp là lăng trụ hình hai mặt và hỗn hợp

Hệ ba nghiêng (Triclinic)

Còn gọi là hệ tam tà. Dạng hạy gặp là lăng trụ kết hợp với các hình hai mặt

Nguồn: ĐÁ NGỌC

Tác giả: TS. Hoàng Thế Ngữ – PGS.TS. Nguyễn Khắc Vinh